Giờ làm việc: Thứ 2->Thứ 6: 14h-19h (Thứ 7-Chủ nhật: 09h-19h)

038.605.2900 - 090.421.9595

Thoái hóa cột sống cổ theo y học cổ truyền

Đăng bởi Đông Y Phúc Thành vào lúc 26/05/2020

Thoái hóa cột sống là một bệnh khá thường gặp, do cột sống chịu đựng nhiều tải trọng xảy ra liên tục, dẫn tới các biến đổi thoái hóa ở các đĩa đệm, thân đốt sống và các mỏm gai sau, bệnh chiếm 2/3 trong tổng số các bệnh khớp do thoái hóa. Trong đó thoái hóa cột sống cổ đứng hàng thứ 2 sau thoái hóa cột sống thắt lưng (chiếm 14% trong các bệnh thoái hóa khớp). Bệnh thường tiến triển chậm, biểu hiện tăng dần các triệu chứng đau, cứng cột sống và hạn chế vận động. Biểu hiện lâm sàng thoái hóa cột sống cổ rất đa dạng, tùy thuộc vào vị trí đốt sống hay đĩa đệm bị tổn thương mà vị trí đau khác nhau, nhưng thường gặp là đau vùng vai gáy. Bệnh gây khó chịu cho người bệnh, làm giảm khả năng lao động và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Nếu không được chẩn đoán và điều trị sớm sẽ gây ra nhiều tổn thương trầm trọng, việc điều trị càng khó khăn, tốn kém và kết quả điều trị càng ít. 

Theo y học cổ truyền thì thoái hóa cột sống cổ thuộc phạm vi chứng tý.

Nguyên nhân

  • Thừa cơ chính khí cơ thể suy giảm, vệ khí hư, phong, hàn, thấp có thể đơn độc nhưng thường kết hợp với nhau xâm phạm vào cân cơ xương khớp kinh lạc làm cho khí huyết vận hành lưu chuyển trong kinh mạch bị bế tắc.
  • Có thể do tuổi già can thaanh hư yếu, do mắc bệnh lâu ngày, hoặc do tiên thiên bất túc; sau kinh nguyệt, sinh đẻ khí huyết suy kém, âm dương không điều hòa, lao động nặng nhọc, ăn uống, tình dục không điều độ dẫn tới khí huyết suy giảm dẫn đến can thận bị hư. Thận hư không chủ được cốt tủy, can huyết hư không nuôi dưỡng được cân cơ, xương khớp bị thoái hóa. Hoặc do đàm ẩm, huyết ứ gây bế tắc kinh lạc cũng có thể gây chứng Tý.

Phân loại

Phân loại theo ngũ thể và ngũ tạng

Trong nội kinh, theo ngũ thể chia 5 chứng tý: Cân tý, Cơ tý, Cốt tý, Mạch tý, Bì tý. Tùy theo thời tiết mà bệnh có biểu hiện ở ngũ thể khác nhau: mùa xuân bị bệnh là cân tý; mùa hạ bị bệnh là mạch tý; mùa trưởng hạ bị bệnh là cơ tý; mùa thu bị bệnh là bì tý, mùa đông bị bệnh là cốt tý.

Ngũ thể và ngũ tạng trong ngoài phối hợp với nhau:

  • Cân tý không khỏi cảm phải phục tà sẽ vào can. Can tý đêm ngủ hay giật mình, uống nhiều, tiểu nhiều, ở trên như có cục.
  • Mạch tý không khỏi, cảm phải phục tà sẽ vào tâm. Tâm tý thì mạch không thông, phiền thì tâm hạ nổi lên, khí bạo thượng gây khó thở, ợ khan, quyết khí thượng lên thì sợ hãi.
  • Cơ tý không khỏi, cảm phải phục tà sẽ vào tỳ. Tỳ tý thì chân tay rã rời, ho, nôn, ở trên lạnh. 
  • Bì tý không giải được phục tà sẽ phạm vào phế. Phế tý thì phiền mãn, khó thở và nôn mửa. 
  • Cốt tý không khỏi, cảm phải phục tà sẽ vào thận. Thận tý thì trướng, vùng cùng cụt sưng, cột sống, đầu sưng.

Phân loại theo nguyên nhân gây bệnh

Thường chia thành hai loại: phong hàn thấp tý và can thận hư kết hợp với phong, hàn, thấp.

Các thể lâm sàng

Thể phong hàn thấp tý

Triệu chứng chung là đau mỏi các khớp, lạnh mưa ẩm thấp đau tăng hoặc tái phát,
bệnh mạn tính. Pháp điều trị chung là khu phong, tán hàn, trừ thấp.

Trên lâm sàng, căn cứ triệu chứng thiên về phong, hàn, thấp để phân các thể:

Thể phong tý (hành tý): do phong là chính.

Triệu chứng: đau vùng cổ gáy, đau tăng khi gió lạnh, đau lan lên đầu vùng chẩm, lan xuống vai và tay, sợ gió, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng, mạch phù.

Pháp điều trị: khu phong, tán hàn, trừ thấp, thông kinh hoạt lạc.

Điều trị cụ thể: 

  • Không dùng thuốc: Châm tả các huyệt Phong trì, Phong môn, Kiên tỉnh, Hợp cốc, a thị huyệt; châm bổ huyệt Cách du, Huyết hải, Túc tam lý; xoa bóp bấm huyệt vùng cổ gáy.
  • Dùng thuốc: bài thuốc “Phòng phong thang” gia giảm.

Thể thấp tý (trước tý): do thấp là chính

Triệu chứng: đau vùng cổ gáy, đau nặng nề, tăng lên khi thời tiết ẩm, cột sống cổ cứng, vận động khó, toàn thân mệt mỏi, tê bì.

Pháp điều trị: trừ thấp, khu phong tán hàn, thông kinh hoạt lạc.

Điều trị cụ thể: 

  • Không dùng thuốc: châm tả các huyệt Phong trì, Phong môn, Kiên tỉnh, Hợp cốc, A thị huyệt, Phong long, Lương khâu; châm bổ Tỳ du, Túc tam lý; xoa bóp bấm huyệt vùng cổ gáy.
  • Dùng thuốc: bài thuốc “Ý dĩ nhân thang” gia giảm.

Thể hàn tý (thống tý): do hàn là chính.

Triệu chứng: đau vùng cổ gáy cố định, đau dữ dội, đau tăng khi trời lạnh hoặc về đêm, chườm ấm nóng đỡ đau, có thể đau lan lên đầu, xuống vai và tay, sợ gió, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng, mạch huyền khẩn hoặc nhu hoãn.

Pháp điều trị: tán hàn, khu phong, trừ thấp, thông kinh hoạt lạc.

Điều trị cụ thể: 

  • Không dùng thuốc: ôn châm các huyệt Phong trì, Phong môn, Kiên tỉnh, Hợp cốc, A thị huyệt; cứu Quan nguyên, Khí hải, Thận du, Túc tam lý; xoa bóp bấm huyệt vùng cổ gáy.
  • Dùng thuốc: bài thuốc “Ô đầu thang” gia giảm; nếu đau nặng có thể dùng bài “ Quế chi phụ tử thang” gia giảm.

Thể phong hàn thấp tý kèm can thận hư

Do can thận hư kết hợp với phong hàn thấp gây ra

Triệu chứng: giống phong hàn thấp tý thiên về hàn tý kèm theo các triệu chứng như đau lưng, ù tai, ngủ ít, lưng gối đau mỏi, nước tiểu trong, tiểu nhiều về đêm, tứ chi tê, hoa mắt chóng mặt, mắt nhìn mờ, mạch trầm tế.

Pháp điều trị: bổ can thận, khu phong, trừ thấp, tán hàn, hành khí hoạt huyết.

Điều trị cụ thể: 

  • Không dùng thuốc: ôn châm các huyệt Phong trì, Phong môn, Kiên tỉnh, Hợp cốc, A thị huyệt; cứu các huyệt chính là Quan nguyên, Khí hải, Thận du, Tam âm giao, Thái khê; xoa bóp bấm huyệt vùng cổ gáy.
  • Dùng thuốc: bài thuốc “Quyên tý thang” gia giảm.